|
hoquynhhuong
member
REF: 666818
11/14/2013
|
>>
xem chủ đề
Tomy ơi là Tomy, bạn bị Kiều ám ảnh rồi,hihi
Mà nói thiệt, nếu QH là Thúy Kiều thì QH nghiêng về Từ Hải hơn à, nên Tomy làm Từ Hải nhé
QH mời đọc những phân tích về cái tình của Từ Hải và Thúy Kiều thử nhé :
Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, Từ Hải gặp Thúy Kiều lúc nàng bị Bạc Bà đánh lừa, nói là cưới làm vợ cho cháu là Bạc Hãnh, rồi sau đó lại bắt Kiều tiếp khách. Đây là lần thứ hai Kiều bị đẩy vào thanh lâu, nghĩa là cuộc đời đã ba chìm bảy nổi. Có thế mới thấy mối tình của Từ Hải sau này đối với Kiều thật là vị tha quảng đại, hợp với tính chất khóang đạt của họ Từ.
Vậy Từ Hải là hạng người thế nào? Vào lúc này, Kiều đã hoàn toàn đầu hàng số phận, chịu làm gái lầu xanh:
Biết thân chạy chẳng khỏi trời
Cũng liều mặt phắn cho rồi ngày xanh
Chính trong cảnh ngộ tuyệt vọng đó, Thúy Kiều găp Từ Hải:
Lần thâu gió mát trăng thanh
Bổng đâu có khách bên đình sang chơi
Râu hùm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao,
Đường đường một đấng anh hào
Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.
Đội trời đạp đất ở đời
Họ Từ tên Hải, vốn người Việt Đông.
Giang hồ quen thú vẫy vùng
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.
Từ Hải tìm đến Kiều không phải do sự tình cờ ngẫu nhiên. Từ Hải đã nghe tiếng Kiều, tuy vì cảnh ngộ phải làm gái lầu xanh, nhưng vì là con nhà thi lễ, có học, đàn giỏi, thơ hay, nên trong cử chỉ hằng ngày vẫn biểu lộ được sự thanh cao căn bản:
Qua chơi nghe tiếng nàng Kiều,
Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng.
Thiếp danh đưa tới lầu hồng,
Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa
Ngay khi vừa gặp nhau, Từ đã nói rõ mình không phải là hạng người tìm thú vui chốc lát:
Từ rằng: “Tâm phúc tương cờ,
Phải tuồng trăng gió vật vờ hay sao?”
Và cho biết là cũng đã nghe tiếng Kiều có phần cách bậc đối với bọn khách làng chơi tầm thường:
“Bấy lâu nghe tiếng má đào,
Mắt xanh chẳng để ai vào có không?
Một đời được mấy anh hùng,
Bõ chi cá chậu chim lồng mà chơi!”
Tương truyền rằng Nguyên Tịch đời Tấn nhìn ai với mắt xanh là có ý xem trọng, nhìn ai với mắt trắng là coi thường. Và Từ Hải cũng biểu đồng tình ngay với Kiều, cho hạng người tầm thường, sống trong vòng giam hãm câu thúc theo thói tục thì không đáng được chú ý. Chỉ họ Từ mới là hạng anh hùng hiếm có. Nói chung là trước khi gặp Kiều, Từ Hải đã biết tư cách của nàng không cam tâm làm gái lầu xanh tầm thường, mà chàng đã có ý xem nàng là hồng nhan tri kỷ. Kiều là cô gái “Thông minh vốn sẵn tự trời”, nên biết ngay họ Từ quả đáng mặt anh hùng:
Thưa rằng:”Lượng cả bao dung
Tấn Dương được thấy mây rồng có phen.
Rộng thương cỏ nội hoa hèn
Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau.”
(Tấn Dương là nơi Đường Thế Dân khởi binh đánh nhà Tùy, lập nghiệp nhà Đường. Kiều tin rằng họ Từ có tài làm nên đế nghiệp.)
Từ Hải chắc chắn là phải phục tài xét đoán của Kiều, mới găp mà đã biết rõ tài chí của mình:
Nghe lời vừa ý gật đầu
Cười rằng:” Tri kỷ trước sau mấy người!
Khen cho con mắt tinh đời
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già!
Một lời đã biết đến ta
Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau!”
Mới gặp nhau lần đẫu, lại gặp trong lầu xanh, mà hai người đã có những tư tưởng tâm đầu ý hợp, tính chuyện gắn bó trăm năm!
Trước đây, lúc bị bán vào lầu xanh lần đầu, Kiều cũng đã được một khách làng chơi là Thúc Sinh mê vì sắc, đắm vì tài, trả tiền cho mụ Tú Bà để chuộc về. Lúc Thúc Sinh gặp Kiều lần đầu, Nguyễn Du nói rất nhiều tới nhan sắc quyến rũ của Kiều:
Trướng tô giáp mặt hoa đào,
Vẻ nào chẳng mặn, nét nào chẳng ưa
Hải đường mơn mởn cành tơ
Ngày xuân càng gió, càng mưa, càng nồng
Nguyệt hoa, hoa nguyệt não nùng
Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng!
Thúc Sinh có mê Kiều cũng như bao nhiêu người mê gái khác, chỉ nhằm vào thú vui vật chất, dần dà có quấn quýt, nhưng không phải là tình yêu bộc phát từ tâm linh, như Từ Hải yêu Thúy Kiều:
Sớm đào, tối mận, lân la,
Trước còn trăng gió, sau ra đá vàng.
Hay là:
Miệt mài trong cuộc truy hoan
Càng quen thuộc nết, càng dan díu tình
Nguyễn Du cố ý nhấn mạnh tư cách tầm thường của Thúc Sinh,
có tiền, nhưng chỉ có thể có sự say mê tầm thường:
Lạ cho cái sóng khuynh thành,
Làm cho đổ quán, xiêu đình như chơi!
Thúc Sinh quen thói bốc rời,
Trăm nghìn đổi một trận cười như không!
Phải quả quyết Nguyễn Du đánh giá rất thấp sự đam mê nữ sắc của Thúc Sinh, nhất là lúc anh chàng bắt gặp Kiều đang tắm:
Rõ ràng trong ngọc, trắng ngà,
Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên!
Thúc Sinh tức cảnh làm thơ, yêu cầu Kiều họa, nhưng Kiều từ chối, nói là vì đang có tâm sự buồn. Nhờ nhà, nhớ quê hương. Thúc Sinh ngạc nhiên hết sức, vì đinh ninh Kiều là con đẻ của Tú Bà:
Rằng: ”Sao nói lạ lùng thay!
Cành kia chẳng phải cội này mà ra?”
Vì vậy, Thúc Sinh không cương quyết bảo vệ cho Kiều, tỏ ra khiếp nhược, sơ vợ cùng cực. Khi Kiều bị Hoạn Thư bắt cóc đem về làm người ở, bát hầu ruợu, Thúc Sinh chỉ dám khóc thầm!
Trái lại sau khi Từ Hải chuộc Kiều về, đường hoàng chung sống:
Trai anh hùng, gái thuyền quyên
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng
Đối với Thúc Sinh, Nguyễn Du không dùng mấy chữ “Trai anh hùng, gái thuyền quyên. Từ Hải yêu, nhưng không mê mệt đắm say, không vì tình mà xao lãng hòai bão vùng vẫy cho thỏa chí bình sinh của mình:
Nửa năm hương lửa đang nồng
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương
Trông vời trời biển mênh mang
Thanh gươm yên ngựa lên đàng thẳng dong.
Kiều ngỏ ý muốn đi theo, thì Từ Hải dứt khoát ngăn can:
Từ rằng: “Tâm phúc tương tri
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?
Bao giờ mười vạn tinh binh,
Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường:
Làm cho rõ mặt phi thường,
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.
Bằng nay bốn bể không nhà,
Theo càng thêm bận, biết là đi đâu?
Đành lòng chờ đó ít lâu,
Chầy chăng là một năm sau vội gì!”
Trong sự ngăn can đó, họ Từ vừa tỏ rõ lòng tự tin vào sự nghiệp tương lai của mình, với lời hứa chắc nịch sẽ đón Kiều sau khi chiến thắng. Tâm tư họ Từ đúng là tâm tư của người chồng lo lắng cho vợ trong lúc phải bôn ba rày đây mai đó.
Trong lúc gian díu với Thúc Sinh, Kiều nhiều lần giục giã anh chàng về báo cho vợ cả là Hoạn Thư biết. Đằng nào thì cụ thân sinh họ Thúc cũng đã theo lời quan trên, cho phép anh ta cưới Kiều làm vợ lẽ. Vậy thì việc báo tin cho vợ cả không có gì là khó theo phong tục thời đó. Vậy mà anh chàng mê gái vẫn lần lựa giấu diếm. Do đó mới có cảnh Hoạn Thư bồ trí bắt cóc Kiều, hành hạ tàn nhẫn sau này. Chính Hoạn Thư tuyên bố:
“Ví bằng thú thật cùng ta,
Cũng dung kẻ dưới, mới là lượng trên...
Nhưng mà vì Thúc Sinh:
...“Lại còn bưng bít giấu quanh,
Làm chi những thói trẻ ranh nực cười!
Tính rằng cách mặt khuất lời
Giấu ta, ta cũng liệu bài giấu cho!”
Người như Thúc Sinh quả thực không thể có được mối tình chân thực. Tư cách này so với họ Từ cách nhau như trời với vực! Nói cho công bằng thì sự liên hệ Thúc Sinh-Thúy Kiều, tuy bắt đầu bằng hành động truy hoan, hưởng lạc, nhưng sau rồi cũng có chút tình gắn bó, nhưng vẫn không thề gọi là tình yêu.
Vì vậy cho nên Thúy Kiều đối với Từ Hải cũng khác hẳn tâm tình đối với Thúc Sinh. Trong hơn một năm chung sống, lại có cưới hỏi đàng hoàng, Thúy Kiều vẫn không cảm thấy tin tưởng về tương lai phối ngẫu giữa hai người. Nàng luôn luôn nhắc nhở Thúc Sinh:
“Thiếp như hoa đã lìa cành,
Chàng như con bướm lượn vành mà chơi...”
Hay là:
“...Bình Khang nấn ná bấy lâu,
Yêu hoa yêu được một mầu điểm trang.
Rồi ra lạt phấn phai hương,
Lòng kia giữ được thường thường mãi chăng?”
Hiển nhiên Kiều sợ vợ cả Thúc Sinh. Nhưng tâm sự của nàng bị ưu tư dằn vặt, một phần cũng vì không tin ở tình yêu của họ Thúc.
Khác hẳn với lòng mong mhớ khi Từ Hải xông pha con đường vô định:
Cánh hồng bay bổng tuyệt vời,
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.
Khi quân Từ Hải tiến vào địa phương Kiều cư ngụ, mọi người khiếp sợ cảnh chiến tranh loạn lạc, bồng bế nhau đi lánh nạn và khuyên Kiều tạm lánh cơn binh lửa:
Ngất trời sát khí mơ màng,
Đầy sông kình, ngạc, chật đường giáp binh.
Người quen thuộc kẻ chung quanh,
Nhủ nàng hãy tạm lánh mình một nơi.
Nhưng Kiều nhất định không đi:
Nàng rằng: ”Trước đã hẹn lời,
Dẫu trong nguy hiểm, dám rời ước xưa!”
Kiều nghi ngờ Thúc Sinh ngay cả trong khi chung đụng hàng ngày. Nhưng nàng lại rất tin vào một lời hứa của Từ Hải!
Và Kiều đã đặt niềm tin đó đúng chỗ, đúng người. Lúc này Từ Hải đã chiếm được nhiều đất, đã lập riêng một triều đình. Quân đó là do Từ phái về đón Kiều, với đầy đủ nghi trượng dành cho một bà hoàng hậu.
Từ Hải không phải chỉ quý trọng tài sắc của Kiều, mà còn rất thông cảm những nỗi gian truân, khổ nhục của Kiều. Nghe Kiều kề lại cuộc đời lưu lạc phong trần, bị hà hiếp lừa đảo, trụy lạc
“thanh lâu hai bận, thanh y hai lần”, ông vua một cõi chẳng những không hề chê bai, khinh bỉ, mà còn phẫn nộ, giúp nàng trả thù. Kiều được tình yêu của Từ Hải nâng từ vị thế thấp nhất của xã hội, lên địa vị cao nhất của quan tòa để xét xử những phường gian manh, tàn ác đã đi qua đời nàng. Sau khi đền ơn trả oán, Kiều cảm tạ thì Từ giải thích rất rành mạch:
Từ rằng: “Quốc sĩ xưa nay,
Chọn người tri kỷ một ngày được chăng?
Anh hùng tiếng đã gọi rằng:
Giữa đường dễ thấy bất bằng mà tha!
Huống chi việc cũng việc nhà
Lọ là thâm tạï mới là tri ân!”
Họ Từ còn là một người chồng rất chu đáo, biết lo nghĩ đến cả việc nhà của vợ:
“Xót nàng còn chút song thân,
Bấy nay kẻ Việt người Tần cách xa.
Sao cho muôn dậm một nhà,
Cho người thấy mặt là ta cam lòng.”
Cuộc mưu bá đồ vương của Từ Hải bền vững tới năm năm. Cho tới khi Kiều nghe lời dụ dỗ của Hồ Tôn Hiến, khuyên Từ ra hàng, để bị tên này lừa, thừa cơ Từ ra khỏi thành nghị hòa mà đánh úp, giết Từ. Trong những nhà phê bình Truyện Kiều, có người đã chê Từ là “Bốn bể anh hùng còn dại gái”. Phê bình như thế, có lẽ đúng vì sự nghiệp của Từ tiêu tan một cách phi lý. Nhưng việc Từ thuận hàng có thể chứng tỏ tình yêu của Từ đối với Kiều thực là bao la trường cửu. Sau nhiều năm chung sống, thì không còn cái say mê cuồng dại nữa, mà chỉ còn mối tình bền chặt keo sơn.
Kiều suy nghĩ theo lối người phụ nữ bình thường, muốn có hòa bình, để mình được về quê, chồng được quyền cao chức trọng, mà vợ thê vinh tử ấm, cha mẹ họ hàng cũng được thơm lây. Đây là lối suy nghĩ thực tế của một người mệt mỏi đã trải qua nhiều gian truân.
Nguyễn Du viết Truyện Kiều phỏng theo truyện Đoạn Trường Tân Thanh của Thanh Tâm Tài Nhân. Ông đã cắt bỏ, sửa đổi nhiều chi tiết, nên các nhà nghiên cứu xác nhận Truyện Kiều là do ông sáng tác, tuyệt không mô phỏng, cho nên truyện hấp dẫn, cảm động hơn. Nhiều tác giả lừng danh thế giới thường dựa vào những mẩu chuyện cổ xưa để sáng tác những tác phẩm để đời, như các tác giả trường phái cổ điển Pháp Corneille, Racine, hồi thế kỷ 17, dựa vào các chuyện thần thoại cổ La, Hy, mà viết các kịch bản đã làm say mê từ vua chúa đến thứ dân. Người đọc hay xem kịch không còn nghĩ đến nguồn gốc cốt chuyện hay nhân vật, mà chỉ nhớ diễn biến các sự kiện, hành động của nhân vật theo chủ đích của tác giả
Vậy mà đoạn Từ Hải đầu hàng để bị giết, chết đứng giữa sân, cụ Nguyễn Du lại để nguyên. Nếu nói cụ cố ý để làm nổi bật tấm lòng của Từ Hải yêu Kiều, có lẽ cũng không sai. Từ Hải chết đứng cho đến khi Kiều đến bên mình vật vã khóc than, Từ mới ngã ra:
Lạ thay oan khí tương triền
Nàng vừa phục xuống, Từ liền ngã ra!
Oan khí tương triền là nỗi oan ức vấn vít vào nhau.Từ chết không nhắm mắt, phải đợi đến khi Kiều bầy tỏ sự ăn năn thống khổ vì sự lầm lỡ của mình mới chịu ngã ra!
Nói về cuộc đời tình ái của Kiều mà không nói đến mối tình đầu của nàng và Kim Trọng, là một thiếu sót lớn lao.
Trong ba người có thể gọi là người yêu của Kiều, chỉ có Kim Trọng là người do nàng tự do lựa chọn. Thúc Sinh và Từ Hải là những ân nhân của Kiều, cứu nàng ra khỏi vũng bùn nhơ nhớp. Nàng cảm thấy có bổn phận phải đem chân tình để báo đáp. Vì vậy mà trong trái tim của Kiều, tình cảm giành cho Kim Trọng mới đích thực là tình yêu. Nhưng tình ý của Kim Trọng dẫu có nồng nàn tha thiết cũng không thể ví với mối tình của Từ Hải. Kim Trọng bỏ nhiều công phu, thời giờ theo dõi, sắp xếp để được gặp Kiều. Khi ta theo dõi một sở thích nào thì đó là hành động tất nhiên.
Kiều yêu Kim Trọng cũng không hẳn vì tiếng sét ái tình. Tác giả đã chuẩn bị rất kỹcho cuộc tình đó: trai tài gái sắc, môn đăng hộ đối:
Nguyên người quanh quất đâu xa,
Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh.
Họ Kim là bạn học của Vương Quan, em trai Thúy Kiều, tất nhiên đã biết thân thế cũng như tài sắc của Kiều, và đem lòng mơ tưởng. Họ lại găp nhau trong một buổi chiều xuân thơ mộng:
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm vài bông hoa.
Cụ Nguyễn Du đã chuẩn bị rất kỹ. Trong lần gập gỡ đó, hai bên:
Tình trong như đã, mặt ngoài còn e;
Chập chờn cơn tỉnh, cơn mê,
Rốn ngồi chẳng tiện, rút về chỉn khôn.
Nghĩa là ít nhất họ cũng có sự lựa chọn đắn đo từ trước. Nói chung thì đây là cuộc tình lý tưởng theo quan niệm sống trong xã hội thời đó. Phải công nhận việc Thúy Kiều dám vượt rào qua thăm Thúc Sinh hai lần trong một ngày để xác nhận tình yêu của mình, là một hành động can đảm ít có lúc bấy giờ.
Nhưng đối với mối tình tha thiết đó của giai nhân, Kim Trọng thủy chung chưa có hành động nào tích cực. Kim Trọng về thọ tang chú thì gia đình Kiều bị nạn. Kiều phải bán mình chuộc cha, bắt đầu cuộc đời luân lạc 15 năm. Trong thời gian đó, Kim Trọng có nhớ thương Kiều thật, nhưng vẫn cưới vợ là Thúy Vân, em Thúy Kiều vẫn chăm chỉ học hành, thi đỗ làm quan. Chàng thương nhớ nàng, nhưng chỉ xót xa, đổ lệ, tâm tư thực sự ray rứt, nhưng vẫn ngồi yên trong cuộc sống bình thường. Chàng có ngỏ ý muốn đi tìm Kiều, nhưng ý tưởng đó không bao giờ được thực hiện.
Sau 15 năm trả hết nợ phong trần, hai lần tự tử không chết, Kiều may mắn gập lại gia đình “này chồng, này mẹ, mày cha; này là em ruột, này là em dâu”, Kim Trọng muốn nối lại duyên xưa mà bị Kiều từ chối nên đã phân bua:
“Bấy lâu đáy biển mò kim,
Là nhiều vàng đá, há tìm trăng hoa?”
Chúng ta hơi ngỡ ngàng, vì “đáy biển mò kim” của Kim Trọng chỉ là những lời nhắn nhe, thư từ dò hỏi vu vơ.
Theo ý kiến của mọi người, kể cả Thúy Vân, Kiều chịu làm đám cưới để gọi là trọn lời ước cũ, nhưng nhất định không chung sống ái ân như vợ chồng thực. Kiều đinh ninh rằng vì cảnh ngộ, nàng phải lỡ bước, tấm thân dạn dầy, nhưng vẫn không bao giờ xem Kim Trọng cũng như những người khác đã chiếm được thể xác nàng. Đó là quan niệm về chữ trinh lý tưởng trong trường hợp oái oăm này:
Chữ trinh còn một chút này
Chẳng cầm cho vững, lại dày cho tan!
Và Kim Trọng cũng miễn cưỡng nhận lời:
“Ai ngờ họp lại một nhà,
Lọ là chăn gối, mới ra sắt cầm?”
Đối với cụ Nguyễn Du, thì giàn xếp như vậy không có gì miễn cưỡng cả, vì nó hợp với đạo lý cổ truyền! Nhưng chúng ta thì không thể không thấy mối tình Kim Trọng-Thúy Kiều, tự lúc đầu đã chấp hành đúng kỷ luật, khuôn khổ đạo đức đương thời, thì đến đây là giai đoạn mỏi mệt, phai mờ, chỉ còn cần sự thu vén cho hợp với xã hội, nhất là để cho câu truyện có thủy có chung!
Xét cho cùng, trong các cuộc tình mà Thúy Kiều đã trải qua, thì mối tình Từ Hải-Thúy Kiều đáng gọi là xác thực, đầy đủ tính chất đặc trưng nồng nhiệt tự trong tâm hồn, không bị ngoại cảnh chi phối, mà cũng không bao giờ cần ngoại cảnh tô vẽ. Có vậy cụ Nguyễn Du mới dùng mấy chữ Trai anh hùng gái thuyền quyên để nói về Từ Hải và Thúy Kiều, mà không dùng đối với ai khác vậy.
HQH
|